- Link bài viết gốc
- Chương 9: Đồi 3-mile
- Chương 8: Tạm biệt, Columbus
- Chương 7: Control Alt Delete cuộc đời
- Chương 6: Lăn bánh vào thế giới số
- Chương 5: 200 dặm đầu tiên
- Chương 4: Lên đường
- Chương 3: Sẵn sàng cho cú nhảy
- Chương 2: Những bước đi đầu tiên
- Chương 1: Ý tưởng ra đời
Có thực mới vực được đạo.
— Bertolt Brecht

Sau chặng leo dài trên quốc lộ US 40 ở Maryland, tôi dừng lại nhìn tấm biển và ngẫm xem một tài xế sẽ cảm thấy thế nào khi phải quyết định có nên cho xe tải “lao xuống rãnh” bên sườn núi hay không:
MỌI XE TẢI PHẢI DỪNG
9 DẶM PHÍA TRƯỚC DỐC RẤT CAO
ĐI QUA KHU VỰC ÙN TẮC NGHIÊM TRỌNG.
ĐỔ DỐC BẰNG SỐ THẤP CHO ĐẾN KHI CÓ THÔNG BÁO.
NẾU MẤT PHANH, LẬP TỨC CHO XE LAO XUỐNG RÃNH.
ĐI CẨN THẬN
Tôi đạp nhẹ một cái rồi thả xe trôi tiếp.
Ở Đại học Frostburg, thói quen ghé nhà ăn lại mang đến cho tôi một buổi tối trò chuyện về máy tính và đời sống ký túc xá — một trải nghiệm vừa giống hệt, vừa khác hẳn những trường trước. Ở hết trường này đến trường khác cũng như nghe Pictures at an Exhibition qua phần trình diễn của Dàn nhạc Philadelphia; Emerson, Lake & Palmer; và Isao Tomita.
Buổi sáng: nắng lạnh trong veo, lấp lánh trên khuôn viên phủ sương giá. Ở độ cao này, sắc thu đã tàn; giữa tháng Mười, cây cối chỉ còn trơ cành. Sinh viên trên đường đến lớp sớm túm tụm thành từng nhóm nhỏ, vừa đi vừa phả khói, sách kẹp dưới cánh tay trơn tuột vì tay áo khoác nylon.
Trong bữa sáng, chủ nhà hỏi hôm nay tôi định đi đường nào.
“Có vẻ lựa chọn thực tế duy nhất của tôi là cứ bám theo US 40,” tôi nói, bất lực nhún vai. “Tôi chẳng hào hứng gì, nhưng mấy đường khác đều dẫn xuống những chỗ còn tệ hơn ở West Virginia.”
“Sao — đường kéo thuyền có vấn đề gì à?”
“Đường gì cơ?”
“Đường kéo thuyền dọc kênh Chesapeake và Ohio ấy — trời ạ, nó đưa anh thẳng tới giữa Washington D.C. mà chẳng phải leo lấy một ngọn đồi!”
Nghe thật khó tin. “Một con đường mòn à? Kiểu đường đi bộ đường dài ấy hả? Không đâu, xe tôi đâu hợp chạy địa hình cho lắm.”
“Tôi không rõ, anh bạn. Khối người đi xe mười số trên đó. Hình như họ gọi nó là đường cho người đi bộ với xe đạp hay gì đó. Anh cứ thử xem — đường bắt đầu ở Cumberland rồi men theo sông Potomac suốt quãng còn lại.”

Chưa đầy một giờ sau, tôi đã nương theo trọng lực lao nốt quãng đường tới Cumberland, hỏi thăm vài người rồi dắt xe lách qua mấy cọc chắn ô tô để bắt đầu đi trên tuyến đường lịch sử này — như lặn sâu vào lịch sử nước Mỹ. Từ hồi tiểu học tôi đã nghe nói về con kênh, nhưng cũng như mọi thứ khác, khi ấy nó có vẻ chẳng liên quan gì đến mình và xa xôi đến mức không tưởng.
Mở cửa năm 1850 sau hàng chục năm xây dựng gian khổ và đội vốn, tuyến giao thông dài 184 dặm này từng là huyết mạch thương mại trước khi bị các phương thức vận tải hàng hóa mới khiến cho lỗi thời. Cho đến khi ngừng hoạt động vào thập niên 1920, nó chuyên chở than và nhiều loại hàng khác giữa Cumberland và Washington D.C., trên đường đi tạo nên rồi cũng phá tan biết bao gia tài. Con kênh là một kiệt tác kỹ thuật thủy lợi; những âu thuyền, cửa cống, đường hầm và đập tràn thanh thoát vẫn đứng đó, làm chứng cho tài trí của các nhà thiết kế và mồ hôi của những người lao động.
Con đường rải sỏi bên kênh vốn dành cho đàn la kéo sà lan qua miền đất gồ ghề mà tuyệt đẹp này. Nhưng con kênh đóng cửa năm 1924 và từ đó trở thành công viên quốc gia, có các khu cắm trại được trang bị nhà vệ sinh, nước uống và củi đốt.
Tôi tháo mũ bảo hiểm, đạp xe vào rừng với cảm giác thư thái hiếm hoi khi không còn xe cộ, bê tông, đèn neon hay biển báo nào ngoài những cột mốc gỗ nhỏ bên con đường phủ lá. Hầu hết quãng đường khá êm, dù thi thoảng một chiếc rễ cây ẩn dưới lá lại hất tôi lên khỏi mặt đất, để rồi chiếc xe quẫy đuôi, nảy xóc trở xuống giữa lớp lá thì thầm.

Tôi đều đặn giữ tốc độ 13 dặm một giờ qua suốt cảnh ấy, mê mải ngắm sắc thu loang lổ dưới nắng. Sau những cành cây trơ trụi ở Frostburg, tôi có cảm giác mình đang quay ngược chiếc đồng hồ mùa. Sông Potomac lấp lánh sau hàng cây bên phải, và tôi thường giật mình khi những chiếc đuôi trắng lóe lên, đàn hươu phóng vụt qua rừng. Thoát khỏi tiếng ồn và khói xe trên quốc lộ mới dễ chịu làm sao — tôi tận hưởng gió luồn trong tóc, mùi hương của rừng và cảm giác lịch sử hiện hữu khắp nơi.

Sau vài giờ đạp xe như trong mơ, tôi đi xuyên qua một đường hầm dài 3.000 foot, vừa đẹp như tranh vừa rờn rợn, trong đầu nhớ lại những câu chuyện về mối hiềm khích và lao động khổ sai trong quá trình xây dựng. Khoét xuyên đồi Paw Paw để rút ngắn năm dặm so với tuyến đường uốn lượn theo sông Potomac, đường hầm này đã trở thành công trình huyền thoại nhất của con kênh. Giữa bóng tối đặc quánh chỉ bị xuyên thủng bởi đèn pha của tôi và một chấm nắng chiều xa tít, tôi nhìn thấy những vết dây thừng cọ trên lan can, những lỗ thoát nước trên tường; tôi căng tai tìm tiếng vọng của những sà lan do la kéo từ đầu thế kỷ. Lịch sử trừu tượng trong sách giáo khoa bỗng có hình khối.

Tất cả quả là lay động, nhưng đã đến lúc tìm chỗ ngủ. Tôi dừng tại một trong những khu cắm trại được chăm chút dọc theo thiên đường du lịch xe đạp này và thấy một cặp đôi đạp xe đã tới trước.
Tôi nhập bọn rồi dựng lều, tạo nên một khu trại công nghệ cao tương phản rõ rệt với căn lều đơn sơ và hai chiếc xe nặng nề của họ. Chúng tôi góp chung đồ ăn để làm bữa tối, châm hai quả bom lửa Thụy Điển giống hệt nhau rồi nấu thành một bữa thịnh soạn với món gà bỏ lò, ngô và nhiều thứ khác. Sau đó, cảm nhận bóng ma của những thuyền trưởng sà lan đã chết từ lâu đang xoáy quanh trong không khí tĩnh lặng lúc nửa đêm, tôi kéo khóa nhốt mình vào trong.
Tôi tỉnh giấc giữa màn sương sớm, dòng sông khuất dạng chỉ còn là một hiện diện rì rầm. Cây cối bồng bềnh trong tấm chăn sương ma mị, đến cả âm thanh do tôi tạo ra cũng bị không khí đặc quánh nuốt bớt. Không muốn đánh thức hàng xóm trong chiếc lều võng xuống chỉ còn thấy lờ mờ, tôi quyết định bỏ bữa sáng và lên đường.

Nhưng dường như giờ đây mọi thứ trong đời tôi đều có khóa kéo. Toàn bộ hệ thống du hành này chứa tổng cộng đâu chừng chín mươi hai foot khóa kéo, và khi tôi thu dọn trại, tiếng chúng cứa ngọt qua màn sương đặc: khóa túi ngủ, cửa lều, tấm phủ lều, túi hành lý, cặp tài liệu, áo khoác. Mỗi thứ phát ra một tín hiệu rè rè nho nhỏ, chậm rãi xuyên vào não người đang ngáy cách đó vài bước. Tôi nghe tiếng động đậy.
Rồi một tiếng khóa kéo.
Tôi ngoảnh sang, thấy một cái đầu tóc tai bù xù thò ra khỏi lều, nheo mắt ngó quanh đầy ngơ ngác. “Ngoài đó có chuyện quái gì thế, anh bạn? Nghe như cả đội Hướng đạo sinh đang đứng tè vậy!”
Lên đường. Tôi chào tạm biệt hai người bạn rồi xuất phát, bụng đói nhưng đầy sinh lực nhờ buổi sáng se lạnh. Tôi đi xuyên những cánh rừng rậm và đồng trống, qua những cây cầu bất ngờ hiện ra, càng lúc càng sâu vào miền núi. Không gặp một bóng người, tôi đi ngang Hancock mà tận hưởng chuyến đạp xe đến mức chẳng nỡ dừng ăn sáng. Tôi nhấm nháp một thanh granola rồi đi tiếp, đôi lúc thoáng thấy xa lộ I-70 chạy song song với con kênh giữa Hancock và Big Pool. Cảm giác gần như đang ăn gian, vì tôi lướt quá dễ dàng, quá thong thả qua vùng đất mà mình từng khiếp sợ. Mỗi lần nhìn thấy xa lộ xuyên qua khoảng trống giữa rừng, tôi lại được nhắc rằng thế giới đâu phải nơi nào cũng thanh bình như con đường nhỏ này.
Tôi mừng vì mình đang ở đây.
Đột nhiên tôi nhìn thấy nó: dấu tích của một vụ tai nạn mới xảy ra. Một vụ nghiêm trọng — chiếc xe tải 18 bánh vặn xoắn nằm gãy gục dưới rãnh, hàng hóa bắn tung tóe trên sườn đồi. Đèn cảnh sát chớp sáng. Cảnh đổ nát khiến tôi lạnh người, bởi khó ai có thể sống sót qua thảm họa như thế: ở ngay gần đây đã có người đau đớn, thậm chí bỏ mạng, phủ một bầu không khí chết chóc lên ngày yên ả đến mức tưởng chừng bước ra từ một bộ phim Bambi.

Tôi dừng lại, nửa tò mò, nửa chán nản. Tôi vừa nhấp một ngụm nước và đưa tay lấy máy ảnh thì nghe tiếng lá xào xạc sau lưng.
“Cái quái gì đây?” một giọng trầm hỏi trước khi tôi kịp quay hẳn lại. Năm người đàn ông bước ra khỏi rừng — năm gã to lớn, mặt mày dữ dằn, rõ ràng chẳng xa lạ gì với bạo lực. Một người mặc áo, quần và mũ chỏm đều màu đen; chỉ có chiếc răng vàng bắt ánh nắng dịu trong rừng. Người vừa lên tiếng là một gã khổng lồ, cao ngang tôi — sáu foot bốn — nhưng nặng gấp rưỡi, toàn thân cuồn cuộn cơ bắp.
Tôi gượng cười. “Ờ... Chào các anh... Đây là xe đạp. Tôi đang đạp xuyên nước Mỹ, mà cũng gần giống một cuộc đua ấy, nên giờ tôi phải đi đây...”
Răng Vàng cắt ngang, giọng pha trộn kỳ lạ giữa tò mò và đe dọa âm ỉ. “Anh bạn, trên cái thứ đó có súng không?”
“Ờ thì, tôi cũng từng nghĩ tới, nhưng rồi thấy mang theo chỉ tổ rước họa.”
“Chuẩn đấy,” người thứ ba nói. “Đừng có dây vào súng ống chết tiệt, anh bạn. Mấy thứ chó chết đó khiến ông bóc lịch mười lăm năm ở Maryland đấy. Mười lăm năm mẹ kiếp.” Hắn cười dữ tợn, lấy ngón tay cái chai sần chọc vào ngực mình. “Cứ hỏi tôi thì biết!”
Trong khoảnh khắc im lặng sau đó, một con chim cất tiếng hót trong trẻo — âm thanh cao vút, tự do — tiếng chíp chíp vui vẻ vọng ra từ đâu đó giữa tán lá thu rực rỡ.
Dĩ nhiên tôi phải hỏi. “Thế, ờ, các anh từ đâu tới vậy?”
Một gã tóc đỏ lực lưỡng phá lên cười. “Trời, bọn tôi là tù nhân, anh bạn, từ Trại cải huấn Maryland ở Hagerstown.”
“Ra vậy. Các anh đang vượt ngục hay sao?”
Hắn nhe răng định trả lời, nhưng gã khổng lồ đặt bàn tay rắn chắc lên vai tôi rồi cắt ngang. “Tôi nghĩ ta nên tiếp tế cho anh bạn lữ hành này một chuyến, phải không?”
Mấy người kia rì rầm tán thành và — không thể phản đối cho ra hồn — tôi theo họ đi vào rừng, hồi hộp ngoái nhìn chiếc xe kỳ dị của mình bỗng trơ trọi trên con đường kéo thuyền C&O đẹp đến nao lòng kia.
Chúng tôi đi về phía xa lộ, rồi qua hàng cây tôi nhìn thấy một chiếc xe tải màu vàng có con dấu chính thức trên cửa. Một viên cai ngục gầy gò ôm khẩu súng săn, lim dim dựa trên nắp ca-pô; vài tù nhân khác thản nhiên đi lại xung quanh.
“Vậy, ờ, các anh thuộc đội tù nhân ra ngoài lao động à?” tôi dè dặt hỏi.
“Đúng rồi, anh bạn. Bọn tôi tới dọn cái xe đầu kéo lăn xuống đồi đằng kia.” Chúng tôi vẫn bước, không phải về phía xe của nhà tù mà đi sâu vào rừng, rời xa những người khác và cách viên cai ngục mỗi lúc một xa.
Chúng tôi tới một khoảng trống, khuất hẳn khỏi tầm nhìn từ đường cái. Không nhân viên công ty vận tải hay cảnh sát nào có thể tìm thấy chúng tôi ở đây. Gã khổng lồ đảo mắt thật nhanh một vòng rồi dẫn tôi tới một đống lùm xùm giấu trong bụi cây. Nó cao chừng ba foot, phủ một tấm bạt vải ám mùi ẩm mốc; sáu chúng tôi đứng im quanh đó một lúc. Lại một con chim hót chíp chíp.
Bằng giọng trầm thấp, đầy vẻ đồng lõa, hắn tiết lộ món hàng lậu. “Kho riêng của bọn tôi đấy, anh bạn,” hắn nói, “cả xe tải chất đầy thứ này.” Mắt tôi mở lớn khi hắn cúi xuống kéo tấm bạt mốc meo ra. Lần này tôi đang dính vào chuyện gì đây? Có khi chẳng bao lâu nữa tôi sẽ sống chung với mấy gã này thật chăng?
Hắn giật phăng tấm bạt sang một bên như làm ảo thuật. Ngay đó, ngay trên mặt đất trước mắt tôi, gần đến mức có thể chạm vào, là một núi bánh ngọt Sara Lee khổng lồ. Chắc phải hai, ba trăm hộp — giấc mơ bánh ngọt hóa thành sự thật. Một xe tải Sara Lee ư? Vào đúng ngày tôi chưa ăn sáng? Tôi lắc đầu, nước miếng tứa ra.
Hắn cúi xuống nhặt một hộp rồi dúi vào tay tôi. “Ăn bánh óc chó đi, anh bạn,” hắn nói bằng giọng sang sảng. “Thứ này ngon tuyệt.”

Răng Vàng bước lên. “Ôi trời, đừng có dây vào món bánh óc chó chết tiệt đó. Phải ăn bánh Đan Mạch phô mai, anh bạn, bánh Đan Mạch phô mai — món đó mới là đỉnh.” Một hộp nữa đáp xuống hộp đầu tiên.
Gã tóc đỏ đưa tôi thêm một hộp. “Này, anh có muốn mấy cái bánh táo này không?”
Thế là chồng bánh trong tay tôi cứ cao dần, còn tôi đứng giữa rừng Maryland với một đám tù nhân đang tranh cãi xem loại bánh ngọt nào ngon hơn. “Sao ông nuốt nổi thứ đó vậy?” một gã hỏi người kia. “Xem mấy cái này đi, anh bạn, so thế quái nào được.” Đồ ăn đã rã đông từ sau vụ tai nạn, những giọt nước li ti phủ lên các hộp bánh sặc sỡ như trên kệ siêu thị trong tay tôi. Một chiếc lá phong nâu dính trên hộp bánh cà phê hồ đào.
Cố ghìm tiếng cười điên dại đang chực bật ra, tôi nói: “Khoan đã, tôi đi xe đạp mà! Làm sao chở hết chỗ này được!”
“Đi nào,” gã khổng lồ nói.
Thế là chúng tôi quay lại đường kéo thuyền — trở về bên chiếc xe vẫn nguyên vẹn, đứng giữa một vòng tròn nhỏ các tù nhân. Thấy chúng tôi tới, họ phá lên cười. “Này, ông bạn kiếm được cả kho Sara Lee kìa! Nhìn xem! Lão sẽ đạp hai nghìn dặm nhờ chỗ đó đấy!” Họ gỡ chồng hộp khỏi tay tôi rồi nhét dưới dây chằng, sau ghế, giữa các túi hành lý, khắp mọi nơi.
Tôi vật lộn với một hộp bánh Đan Mạch táo, cuối cùng cũng buộc chắc được nó dưới tấm lưới dây thun giữ máy tính xách tay. Gã khổng lồ chộp lấy hộp bánh óc chó. “Đưa đây!” Hắn nhét nó vào giữa tấm chắn gió và khối thiết bị điện tử ở đầu xe. “Đừng lo, nó không rơi đâu.”
Chúng tôi nói lời từ biệt, lóng ngóng bắt tay theo ba nhịp với từng người. Họ vỗ lưng, giơ ngón cái và chúc tôi may mắn. Rồi tôi lại lăn bánh trên đường kéo thuyền, bánh ngọt giăng khắp xe, trông từ đầu đến chân chẳng khác gì một mẩu quảng cáo Sara Lee quái đản.
“Mình đã gặp khối người kỳ quặc trong chuyến đi này,” tôi trầm ngâm, vừa băng qua một khoảng rừng đầy nắng vừa nhấm nháp bánh Đan Mạch phô mai. “Nhưng đến giờ, đám tù nhân này đúng là ăn đứt tất cả.”