- Link bài viết gốc
- Chương 4: Lên đường
- Chương 3: Sẵn sàng cho cú nhảy
- Chương 2: Những bước đi đầu tiên
- Chương 1: Ý tưởng ra đời
Are yew with NASA?
— Ohio farmer

Tôi ngồi cùng Walt và Robby trong một quán cà phê ở Mechanicsburg, say sưa nốc cạn một vại root beer đầy đá. Đây là lần nghỉ chân đầu tiên của chúng tôi. Ngoài kia, trên con phố chính dốc nghiêng và nóng hầm hập của thị trấn nhỏ, ba chiếc xe dựng bên đường — chiếc của tôi là tâm điểm của một đám đông nho nhỏ. Hồi ấy, người ta xúm quanh tò mò vẫn còn là một điều mới mẻ; tôi chẳng buồn che giấu vẻ thích thú khi quan sát họ săm soi cỗ máy và đoán già đoán non về những tấm pin mặt trời. Cả bọn mồ hôi nhễ nhại, người rã rời, bèn gọi thêm một lượt đồ uống nữa.
Robby nhìn chiếc xe của tôi ngoài cửa một lúc rồi khẽ cười. “Tôi có ba lời khuyên cho cậu, Steve, nếu cậu không ngại nghe một lão già lẩm cẩm lên lớp.” Tôi chưa bao giờ nghĩ ông già 65 tuổi tràn đầy sinh lực này là người lẩm cẩm, nhưng vẫn cười toe đáp lại. “Được rồi, ông cụ, nói đi.”
“Thứ nhất, lúc mới bắt đầu thì cứ đạp thong thả cho đến khi người nóng lên. Tôi biết cậu đang muốn lập một thứ kỷ lục tốc độ nào đó, nhưng nhớ rằng phải sang ngày thứ hai hoặc thứ ba mới đau thấm thía nhất.”
Tôi gật đầu. Đầu gối phải đã bắt đầu nhói lên từng cơn, còn cơ bắp khắp người thì ê ẩm.
“Thứ hai, đừng bao giờ cho bất kỳ ai có biệt danh ‘Moose’ cưỡi xe của cậu. Và thứ ba — tuyệt đối không rẽ vào con đường nào có chữ ‘Mount’ hay ‘Hill’ trong tên.” “Ừ, chắc chẳng bao lâu nữa tôi sẽ biết kính nể trọng lực hơn nhiều.” Robby trịnh trọng gật đầu. “Cậu nên thế. Cậu biết không, có những người còn khoan lỗ trên cán bàn chải đánh răng chỉ để bớt đi vài gam đấy.”
Tôi nhún vai. “Nếu tình hình tệ quá, tôi sẽ xé cả nhãn treo trên túi trà. Nhưng đến giờ vẫn có vẻ xoay xở được.” Walt bật cười chen vào. “Ừ, mà cậu vẫn đang ở miền tây Ohio đấy nhé. Có bao giờ nghĩ lên núi thì mọi chuyện sẽ khó hơn một chút không?”
“Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ được nếm thử thôi. Phía nam Bloomington chắc có vài quả đồi ra trò, và tôi sẽ—”
“Đó đâu phải dãy Rockies,” Robby ngắt lời. “Cậu biết cách chuẩn bị hành lý cho một chuyến đi xe đạp không? Gom thành một đống tất cả những thứ mình nhất định phải mang theo — rồi bỏ đi một nửa và chỉ đem chỗ còn lại.”
Tôi không nhịn được cười.
“Rồi cậu sẽ biết.”
“Này Roberts, cậu có biết tối nay chúng ta sẽ dựng trại ở đâu không?” Lúc này chỉ còn Walt và tôi; Robby đã phóng lên trước để kịp dự các cuộc đua ở Indianapolis bằng chiếc xe van của một người bạn. Chúng tôi đã đi được khoảng sáu mươi dặm. “Không.” Tôi rướn người về phía trước để xem tấm bản đồ đặt trong túi nhựa trong suốt phía sau tấm chắn gió, rồi suýt lao xuống rãnh — phải mất vài ngày nữa tôi mới thành thạo được động tác nhỏ ấy. “Thị trấn ra hồn tiếp theo là Troy, nhưng hình như vẫn còn cách chừng ba mươi dặm.” “Trời không còn sáng được lâu đến thế đâu.” “Ừ, chưa kể cái đầu gối này nữa. Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu để mắt tìm chỗ dựng trại. Chỗ nào cũng được.”

Cả hai chúng tôi đều đã kiệt sức. Hai đêm trước, chúng tôi còn làm việc cùng nhau đến tận rạng sáng để hoàn thiện hệ thống điện tử trên xe. Vợ Walt đã đi ngủ từ lâu, dàn stereo mở khe khẽ. Walt còng lưng bên bàn làm việc dưới tầng hầm, dùng que đo dò từng chỗ trong mạch điều khiển vẫn còn hoạt động chập chờn; còn tôi ngồi bệt dưới sàn giữa một mớ dây nhợ, tay cầm mỏ hàn, mắt dán vào sơ đồ mạch lem luốc. Đây là kiểu công việc lúc bắt đầu thì vui như mở hội, đến khi kết thúc lại biến thành cực hình.
Giờ đây, chúng tôi đang hướng về phía tây trên những con đường xuyên qua vùng đồng quê: với Walt, đây là một kỳ nghỉ cuối tuần dài; với tôi, là một cuộc đời mới. Có những đoạn địa hình nhấp nhô đồi dốc, và suốt cả ngày tôi háo hức tận hưởng từng biến chuyển mới lạ của cảnh vật, reo vang mỗi khi vượt qua ranh giới một hạt, rồi cứ cách mười dặm lại đọc to con số trên đồng hồ đo quãng đường như thể đang thông báo tỉ số.
Một cuộc đời mới. Qua mỗi dặm đường, tôi lại cách xa thêm một năm ánh sáng khỏi sự trì trệ của quá khứ. Những hạt nối nhau trôi qua như các thiên hà; chiếc xe là một con tàu vũ trụ mong manh đang thực hiện chuyến thám hiểm.
Nhưng bất chấp niềm phấn khích của cuộc hành trình, những vấn đề đã bắt đầu lộ ra. Chúng tôi vừa mệt vừa đói. Mặt trời đang lặn. Và dù không muốn thừa nhận, tôi vẫn phải đối mặt với nguy cơ động cơ hỏng hóc: đầu gối phải đang đau dần lên. Tôi dồn sức đạp bằng chân trái để chân kia được nghỉ, nhưng khớp gối sưng tấy cứ nghiến ken két như chứa đầy cát. Sau mỗi vòng đạp — khoảng 350 đến 400 vòng trên mỗi dặm — gương mặt vốn điềm tĩnh của tôi lại co thành một cái nhăn nhó dữ dội hơn.
Chúng tôi đến thị trấn Terre Haute ngái ngủ đúng lúc mặt trời lặn rồi bước vào một cửa hàng tạp hóa lèo tèo hàng hóa. Trong đó chỉ có ba dãy kệ ngắn, một phụ nữ đang mua cả đống bánh mì Wonder, hai đứa trẻ mua kẹo và một thiếu niên mặt mày ủ ê vừa dòm ngó chiếc xe của tôi vừa lén lút rít một điếu Marlboro. Tôi đi mua đồ, còn Walt hỏi thăm dân địa phương xem quanh đó có khu cắm trại nào không.
Chỗ gần nhất cách tận mười bảy dặm. Đi thêm được hai dặm, tôi biết mình không thể tiếp tục. Chính là cái đầu gối: tôi gần như muốn gào lên vì đau đớn và tức giận, cảm thấy bị chính cái cơ thể khốn kiếp của mình phản bội. Tôi cắn môi, vừa chửi rủa vừa gắng sức leo lên một ngọn đồi rồi dừng lại trước một căn nhà trang trại.
Mấy đứa trẻ với những đầu gối khỏe mạnh nhảy chân sáo từ cửa trước chạy ra; theo sau, chậm rãi hơn, là hai phụ nữ xinh đẹp.
“Chà! Xe ngầu quá!” một cậu bé reo lên, trong khi cô em gái đứng rụt rè bên cổng, mắt mở to nhìn chúng tôi. “Nó chạy nhanh đến mức nào?”
“Lúc này thì không nhanh lắm,” tôi gượng cười đáp. “Chú mệt rã người rồi. Bọn chú vừa đạp từ Columbus đến đây.”
Gương mặt cậu bé lập tức biến thành hiện thân của sự kinh ngạc. “Bằng cái đó á?”
“Chứ sao!” Tôi cúi nhìn màn hình. “Mới có 69,9 dặm thôi mà.”
“Trờiii! Mẹ! Ra xem này! Chú ấy đạp chiếc xe đó từ tận Columbus đến đây!” Ở Thackery, Columbus được xem là một thành phố xa xôi và đầy vẻ kỳ lạ. Người mẹ mỉm cười, có phần dè chừng nhưng vẫn thân thiện.
“Chúng tôi đang tìm một chỗ dựng trại qua đêm,” tôi đi thẳng vào chuyện. Tôi đã để mắt đến sân sau nhà họ và bắt đầu mơ tưởng đến một vòi tắm, thậm chí có khi còn được mời ngủ trên ghế sofa. Tôi mỉm cười với cô rồi biểu diễn cách điều khiển xe cho cậu bé xem. “Tối nay chúng tôi định cố đến hồ Kiser, nhưng đầu gối phải của tôi đang có vấn đề. Tôi nghĩ đã đến lúc phải dừng lại.”
Cô chỉ xuống chân đồi mà chúng tôi vừa leo lên. “À, cánh đồng dưới kia, qua khúc quanh bên trái, là của nhà tôi. Nếu muốn thì hai anh có thể cắm trại ở đó. Có mấy bụi gai góc các thứ, nhưng cũng không đến nỗi tệ lắm đâu.” Trông cô có vẻ không chắc chắn — tôi quyết định không gợi ý đến cái sân. Hay chiếc ghế sofa.
Chúng tôi cảm ơn cô rồi thả xe trôi trở xuống cánh đồng dốc nham nhở, um tùm gai góc và thường xuân độc. Trong bóng tối đang mỗi lúc một dày, chúng tôi cầm đèn pin vật lộn tìm chỗ dựng trại; Walt lẩm bẩm, tôi rên rỉ, muỗi vo ve, bò rống ồm òm. Thi thoảng, tất cả những âm thanh ấy lại bị cắt ngang bởi tiếng sủa đều đều của một con chó đứng bên rìa cánh đồng, rõ ràng tin chắc rằng chính nó đang ngăn không cho chúng tôi tiến thêm bước nào.

“Lạy Chúa.” Walt chẳng thấy chỗ này có gì đáng hài lòng.
“Thôi nào, ít nhất cũng có chỗ để cắm trại.”
“Ừ, phải rồi.”
“Ôi, cũng đâu đến nỗi tệ thế. Với lại, ngoài đây ra thì chỉ còn trên đỉnh ngọn đồi kia — mà tình trạng này tôi không thể nào lôi chiếc xe lên đó được.”
“Được rồi, kệ đi. Khuân đống đồ sang đây thôi. Nhưng tối mai nhất định phải ngủ nhà nghỉ.”
Tôi đồng ý rồi bắt đầu tập tễnh xuyên qua đám cỏ dại cao ngang eo và những bụi gai cao đến mắt cá, hết chuyến này đến chuyến khác khuân hành lý vào bãi; sau đó lại vật lộn đưa chiếc xe qua rãnh nước và vượt qua hàng dây thép gai han gỉ. Tôi vừa mệt vừa đói, mỗi bước đi lại bật ra một tiếng rên khe khẽ. Có vẻ chuyến đi sẽ kết thúc ngay tại đây — sáng hôm sau tôi sẽ khập khiễng tìm đến một chiếc điện thoại rồi gọi Frank đến đón. Mọi chuyện đã hết; tôi cảm nhận được điều đó trong từng cơn đau bỏng rát như dao đâm từ cái khớp gối vô dụng.
“Chỉ riêng đầu gối thôi cũng đủ chứng minh rằng Chúa có thể phạm sai lầm,” tôi đùa. “Một thiết kế chẳng ra gì.”
“Chắc được làm vội lúc bốn rưỡi chiều một ngày thứ Sáu.” Nhưng chuyện này chẳng buồn cười chút nào. Tôi đã dành trọn sáu tháng để chuẩn bị cho khoảnh khắc này; đã khiến cha mẹ hoảng sợ, tiêu sạch tiền, ve vãn giới truyền thông, dựng cả một văn phòng trong nhà Kacy và chiếm không biết bao nhiêu thời gian của Frank. Tôi đã kể với tất cả bạn bè, lại còn đăng trên tạp chí những bài viết đầy hào hứng về chuyện “phá bỏ xiềng xích”. Vậy mà giờ đây, mới đi được vỏn vẹn bảy mươi dặm, đầu gối tôi đã sắp hỏng trong khi cả thế giới đứng nhìn với nụ cười nhếch mép.
Tôi hình dung cảnh mình lủi thủi trở về Columbus, mặt nóng bừng vì nỗi nhục thất bại; gọi điện cho cha mẹ rồi phải nghe họ nói: “Cha mẹ đã bảo mà.” Elisse sẽ tỏ ra lo lắng cho cơn đau của tôi, trong lòng lại thầm vui sướng. Còn tôi sẽ cưỡi chiếc xe tham gia những chuyến đạp xe đi ăn sáng vào Chủ nhật với câu lạc bộ địa phương, kể cho mọi người nghe về các tấm pin mặt trời và về một ngày nào đó tôi sẽ chu du khắp thế giới cùng chiếc máy tính xách tay.
Mẹ kiếp.
Trong bóng tối, lại lúng túng với đống trang bị chưa quen, chúng tôi dựng lều. Chiếc Domicile của Sierra Designs mà tôi mang theo, với các đoạn khung nối bằng dây đàn hồi và hệ thống móc kẹp, dựng lên khá dễ dàng. Còn Walt vừa làm vừa chửi rủa, cố giữ cho những đoạn khung của chiếc lều đi mượn khỏi bung ra đủ lâu để luồn chúng qua các ống vải nhăn nhúm. Tôi thu xếp mọi thứ tạm ổn rồi tập tễnh lên căn nhà xin một túi nước.
Thế là đến giờ ăn tối. Walt ngồi thư giãn, nhấm nháp pho mát và xúc xích salami mang từ nhà, nhìn tôi với vẻ coi thường gần như không buồn che giấu. “Trời ạ, tôi không thể tin là cậu còn định nấu nướng đấy!”
“Cậu không muốn ăn à?”
“Có thì tôi vẫn ăn, nhưng tôi cứ thấy cậu điên thật.” Walt lắc đầu khi tôi nhét những cành cây xuống dưới bếp để giữ nó khỏi đổ trên sườn dốc. Trông anh có vẻ căng thẳng lúc tôi phun xăng vào chén mồi rồi quẹt diêm. Một tiếng phụt vang lên, ngọn bếp bùng cháy.
“Lạy Chúa!” Walt kêu lên, giật lùi trước ngọn lửa bất thần bùng dữ dội. “Cái của nợ ấy là bom xăng Molotov đấy!” Cây cối xung quanh chao đảo trong những mảng bóng lập lòe khi ngọn lửa của tôi đẩy lùi màn đêm. Rồi tôi vặn van; quầng lửa vàng hung hãn được thay bằng một ngọn lửa xanh có kiểm soát, chỉ trong vài giây đã ổn định thành tiếng gầm đều đều.
“Có ngày cậu sẽ tự giết mình bằng quả bom lửa Thụy Điển ấy,” Walt tiên đoán, dè chừng quan sát từ một khoảng cách an toàn.
“Bữa tối” là một hỗn hợp thảm hại gồm đậu hộp, chili hộp, ngô hộp và một loại pho mát dai nhách nào đó. Rắc thêm ớt cayenne cũng chẳng cứu vãn được gì. Chúng tôi ăn trong im lặng nặng nề rồi bỏ lại nửa chảo — trên bề mặt nâu sền sệt của thứ hỗn hợp ấy đã bắt đầu đóng thành một lớp váng nứt nẻ.
Một mình trong chiếc lều Domicile, tôi ngồi gõ bài trên chiếc Model 100 dưới ánh nến. Tôi cố viết bằng giọng đầy hào hứng — cố dùng ngôn từ để biến mọi chuyện thành tốt đẹp hơn. (Tôi có nhắc đến cái đầu gối, rồi nói dối: “Nhưng ngoài chuyện đó ra, mọi thứ đều tuyệt như chốn thần tiên.”) Thế nhưng nỗi tuyệt vọng vẫn treo lơ lửng trong bầu không khí ngột ngạt của căn lều như mùi mồ hôi tích tụ suốt ngày; những hoài nghi cứ vo ve quấy nhiễu chẳng khác nào lũ muỗi.
Tôi cẩn thận vẽ lại hành trình trong ngày trên trang 76 của tập bản đồ AAA, rồi đánh dấu đoạn đường dài một phần tư inch đầu tiên lên tấm bản đồ tổng thể nước Mỹ. Tôi nhìn chằm chằm vào đó thật lâu trước khi chìm vào một giấc ngủ đầy dằn vặt.

Tôi thức dậy với cơ thể cứng đờ và đau nhức, đầu óc choáng váng sau một đêm vật lộn với mặt đất lổn nhổn và sức kéo của trọng lực. Tôi hồi hộp thử cử động đầu gối, đã chuẩn bị tinh thần cho một cơn đau khủng khiếp nhưng nhận ra nó chỉ đau bình thường. Tôi duỗi người rồi chui ra ngoài, bước vào màn sương sớm dày đặc. Mọi thứ đều ướt sũng hơi nước ngưng tụ, còn ánh mặt trời vừa bắt đầu nhuộm sáng những ngọn cây trong tiết trời ấm áp cuối thu.
Walt cựa mình khi nghe tiếng bếp gầm lên rồi bò ra khỏi lều, cằm lởm chởm râu và mắt còn ngái ngủ, đúng lúc tách cà phê nóng bốc khói đầu tiên vừa pha xong. Tôi đưa nó cho anh rồi pha một tách cho mình, dùng chiếc phin nhỏ để pha cà phê Costa Rica mới xay — một món lẽ ra phải trở thành trang bị tiêu chuẩn của mọi người đi cắm trại.
Sau đó, với một nụ cười ranh mãnh, tôi lôi thực phẩm ra khỏi mớ hỗn độn trong lều, ném thịt xông khói vào chiếc chảo Teflon có tay cầm gấp rồi bắt đầu bào pho mát. Walt ngồi ở cửa lều, cố gom góp đủ sức lực để thu dọn hành lý, chẳng mảy may quan tâm đến những việc nội trợ lặt vặt vô vọng của tôi. Nhưng chẳng bao lâu sau, tiếng mỡ reo xèo xèo cùng mùi thơm đã lan qua khoảng cỏ đẫm sương ngăn giữa hai chúng tôi.
Walt ngoái sang nhìn tôi với vẻ mặt gần như tuyệt vọng.
“Ôi lạy Chúa, cậu không nói nghiêm túc đấy chứ!” Anh chỉ vào chiếc chảo tối qua bị bỏ quên giữa đám cỏ ướt sương, bên trong đóng một lớp chất kinh khủng giống như bột trét, lổn nhổn những hạt đậu nhão nhoét. “Thị trấn tiếp theo kiểu gì chẳng có nhà hàng, anh bạn — nếu cậu còn bày vẽ nấu bữa sáng thì chúng ta sẽ mắc kẹt ở đây cả ngày mất!”
Tôi chỉ mỉm cười. “Thư giãn đi. Bữa sáng là sở trường của tôi.”
Trong lúc Walt lắc đầu, buông lời chê bai nào là bom lửa Thụy Điển, nào là nồi niêu xoong chảo chết tiệt, rồi còn bao nhiêu dặm nữa mới đến Richmond, tôi bắt đầu làm món trứng tráng thịt xông khói và pho mát đầu tiên. Anh cố ý quay lưng lại, vùi đầu vào việc thu dọn hành lý.
Đã đến lúc lật trứng. Tôi có mang theo một chiếc xẻng bằng nylon dành riêng cho việc ấy, nhưng lúc này lại nổi hứng muốn phô diễn. (Này, dù sao đây cũng là màn ra mắt của tôi giữa chốn hoang dã, được chưa?) Tôi nhấc chảo lên khỏi bếp để làm chậm quá trình nấu rồi chờ người bạn của mình ngoái sang.
Cuối cùng, thời khắc ấy cũng đến. Với phong thái của một bếp trưởng trên truyền hình, tôi ném cho Walt một nụ cười ngạo nghễ rồi hất chiếc chảo — một động tác được tính toán hoàn hảo để miếng trứng bay lên, lật mặt và rơi trở lại đúng chính giữa lớp bơ đang reo xèo xèo.
Nhưng… tôi chưa bao giờ dùng một chiếc chảo có tay cầm gấp.
Và quả nhiên, tay cầm gập xuống — hất cả bữa sáng lên cổ tay tôi và làm bỏng cẳng tay.
Tôi cố giấu cơn đau, nhìn đống thức ăn bốc khói nằm giữa cỏ dại. Quái quỷ, ai lại lắp bản lề vào tay cầm chảo rán cơ chứ? Walt buồn bã lắc đầu rồi tiếp tục thu dọn, còn tôi xúc đống thức ăn lên và nấu cho xong. Cuối ngày hôm ấy, khi chúng tôi đạp xe dưới ánh nắng thiêu đốt, anh đưa ra một nhận xét.
“Cậu biết không, Roberts? Tôi đã nghĩ ra đống nồi niêu xoong chảo chết tiệt của cậu dùng được vào việc gì rồi.”
“Việc gì?”
“Máy phát hiện ổ xóc. Cậu biết đấy, tôi chưa quen ngồi xe đạp nhiều đến thế này. Cứ đạp phía sau cậu, tôi chỉ cần lắng nghe tiếng lạch cạch. Ngay khi chúng bắt đầu va loảng xoảng, tôi biết mình còn khoảng ba giây để nhấc mông khỏi yên xe.”
“Chà, Walt, tôi rất vui vì đã giúp được cậu.”
“Đống đồ ấy đã cứu cái mông đau nhừ của tôi không chỉ một lần. Dùng để nấu ăn thì chẳng có ích mấy, nhưng dự báo tình trạng mặt đường lại khá đấy!” À, nhưng đây mới đúng là lúc của tôi. Kiểu cắm trại của tôi có thể vẫn còn vụng về, còn cái đầu gối thì ghìm tốc độ xuống khoảng mười hai dặm một giờ, nhưng đây mới là sở trường của tôi — tôi tìm thấy một trạm điện thoại công cộng ở Christiansburg. Đã đến lúc đăng nhập CompuServe để nhận tin nhắn từ Kacy, rồi gửi đi bài viết “Đêm đầu tiên”.
Tôi đẩy chiếc xe lên vỉa hè, lấy Model 100 ra rồi nhẹ nhàng đặt máy xuống mặt đường cạnh trạm điện thoại. Tiếp theo là “bộ ghép âm thanh” — một cặp chụp cao su mà tôi gắn vào hai đầu ống nghe rồi cắm dây vào phía sau máy tính. Tôi thực hiện cuộc gọi thanh toán bằng thẻ tín dụng tới số truy cập mạng gần nhất, gõ vài phím rồi chờ tín hiệu báo kết nối thành công.
Bíp. Không có vấn đề gì.
Chỉ vài lần gõ phím là hệ thống nhận diện được tôi, và thế là tôi đã có mặt trên mạng máy tính, giao lưu với mọi người qua trạm điện thoại công cộng đầu tiên ở một thị trấn nhỏ. Rồi đây, việc này sẽ trở thành một thói quen hằng ngày chẳng khác gì đổ đầy các bình nước hay kiểm tra lốp xe; nhưng lúc ấy, nó vẫn thật hào hứng, kịch tính và tràn đầy hứa hẹn. Tôi ngồi phịch xuống nền bê tông rồi bắt tay vào việc, tải xuống báo cáo của Kacy về thư từ trong ngày và cách giới truyền thông đưa tin về lễ xuất phát của tôi. Sau đó, tôi chuyển sang chế độ truyền và tải bài viết lên để cô gửi đi.
Thoạt đầu tôi hầu như không để ý đến người nông dân già — ông chỉ là một phần của phong cảnh, một nét nền thôn dã giống như những căn nhà trắng giản dị và các cây phong lâu năm. Chiếc xe bán tải Ford cũ kỹ của ông đỗ xịch bên cạnh tôi giữa một tiếng va đập và một cú nổ ngược; cánh cửa kêu cót két khi ông mở ra bước xuống. Tôi đoán ông đang định vào Nhà hàng M & M, nhưng trông thấy tôi thì dừng lại, vừa chậm rãi nhai một miếng thuốc lá vừa trầm ngâm quan sát cảnh tượng trước mắt.
Tôi ngẩng lên, cười chào buổi sáng; ông gật đầu đáp lại. Trong bộ quần áo bảo hộ liền thân màu xanh phủ bụi và chiếc mũ Caterpillar sờn cũ, ông bước đến, nhìn tôi chằm chằm một lúc rồi cúi xuống xem những dòng chữ đang cuộn qua màn hình tinh thể lỏng của chiếc máy tính. Ông liếc sang đường dây nối với điện thoại, sau đó ngồi xổm cạnh chiếc xe để săm soi, bất chợt cau mày tập trung rồi đưa một ngón tay chai sần chạm vào hệ thống thanh nối tay lái. Cuối cùng, ông phun một dòng nước thuốc lá vào đám cỏ dại và nheo mắt nhìn tôi thật kỹ.
“Cậu làm cho NASA à?”
Ngay lúc ấy, tôi chợt nhận ra mình đang đem tương lai xộc thẳng vào cuộc sống bình thường của người khác — và đây mới chỉ là khởi đầu. Lối sống mới của tôi dựa trên những công nghệ mà phần lớn mọi người vẫn tưởng chỉ tồn tại trong truyện khoa học viễn tưởng. Và bản thân chuyến đi đang truyền đi một thông điệp lạ lùng: những thứ ấy không chỉ thực sự dùng được, mà còn có thể khiến cuộc sống trở nên đầy hứng thú.
“Vâng, thưa ông. Cái này là Mô-đun Du hành Điên loạn…” Chúng tôi nhìn nhau một lúc như hai đại diện của những nền văn hóa ngoài hành tinh, rồi cả hai cùng bật cười. Indiana. Ranh giới bang lặng lẽ trôi qua mà chúng tôi không hề nhận ra; kết cấu mặt đường hầu như chẳng thay đổi để báo hiệu rằng xứ Buckeye đã nhường chỗ cho đất Hoosier. Đúng như thỏa thuận, đêm thứ hai Walt và tôi nghỉ tại một nhà nghỉ ở Richmond — một sự kiện chẳng để lại dấu ấn gì ngoài đống quần áo giặt trong bồn rửa và niềm sung sướng được nằm trên những chiếc giường thực sự.
Buổi sáng nóng bức; đất đai bằng phẳng. Chẳng mất bao lâu chúng tôi đã nhận ra xe cộ trên quốc lộ US 40 vừa chạy nhanh vừa hung hăng, vì vậy cả hai tìm đến một con đường nhỏ thẳng tắp như mũi tên chạy song song bên cạnh. Nó lặng lẽ đưa chúng tôi xuyên qua những cánh đồng ngô vàng óng bất tận của miền đông Indiana. Những dặm đường nhòa lẫn vào nhau; mắt tôi mở to, nhưng tôi vẫn chưa học được cách nhìn. Tôi đi xuyên qua miền đất ấy mà không thật sự chạm vào nó, lưu giữ những ký ức về khoảng cách nhiều hơn về cảnh vật, về chiếc xe màu xanh và làn da mới rám nắng nhiều hơn về những con người sinh động trong quán cà phê ở Mays. Tôi cứ thế thảnh thơi đạp đi, nghĩ về những cỗ máy của mình, về đôi đầu gối và những hệ quả sâu xa của cuộc đời mới.

Đến cuối buổi chiều, chúng tôi đã tiến gần thủ phủ của bang, sau ba ngày được nuông chiều bởi sự yên bình của miền thôn dã. Dấu hiệu đầu tiên xuất hiện khi chúng tôi từ Post Road rẽ vào Raymond Street: một chiếc xe chở đầy những gã khốn chạy vượt qua, ném một cốc nước đá vào Walt và một mớ rác đồ ăn nhanh vào tôi.
Chúng tôi buông vài lời vơ đũa cả nắm chẳng mấy lịch sự về dân Hoosier rồi tiếp tục đi về phía tây, đúng lúc giờ cao điểm bắt đầu. Đây là một khu phố nhếch nhác và nguy hiểm; adrenaline lập tức trào lên, thúc chúng tôi lao qua những dãy phố tả tơi để rồi kiệt sức khi đến đầu đường cao tốc Airport Expressway. Một gã ngốc ở trạm xăng bảo rằng con đường điên loạn ấy là lối duy nhất để đến khách sạn Airport Hilton. Thế là chúng tôi hít một hơi thật sâu rồi đạp lên đường dẫn, đi ngang qua tấm biển CẤM NGƯỜI ĐI BỘ VÀ XE ĐẠP.
Mạng người thật mong manh. Ý nghĩ ấy cứ quay vòng trong đầu tôi như một câu cầu nguyện vô vọng khi chúng tôi vật lộn với dòng xe chiều thứ Sáu. Việc chúng tôi có mặt ở đó đúng là điên rồ: một vòng xoáy bằng thép cuồn cuộn quanh hai chiếc xe đạp, khiến tôi vừa choáng váng vừa kiệt sức. Đầu gối đau giật từng cơn, cơ bắp bỏng rát khi tôi cuống cuồng tăng tốc băng qua các làn xe rẽ, sự chú ý bị xé đôi giữa cảnh hỗn loạn trong gương chiếu hậu và con đường rối ren phía trước.
Âm thanh duy nhất là tiếng gầm liên tục của ô tô và xe tải phóng vụt qua trong cơn vội vã khủng khiếp. Một lon bia bay sượt qua tôi rồi vọt qua lan can. Tôi ngoái lại, trông thấy Walt — một sinh vật kinh hãi khác đang bị quăng quật giữa những luồng xoáy dữ dội của cơn ác mộng sống động này.
Xa tít phía trước, xuyên qua một màn khói xăng dầu dày đặc, là biểu tượng màu xanh của Airport Hilton. Frank đang chờ chúng tôi trong một căn phòng ở tầng ba, bên cạnh thùng bia ướp lạnh. Tôi lạng xe để tránh một vệt kính vỡ; tiếng còi lập tức nổ tung bên tai. Quay sang, tôi thấy một người đi làm mặt đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại trong bộ vest sẫm màu, đang giơ ngón tay thối về phía mình. Tôi mấp máy chửi lại, nhưng lời nguyền rủa lập tức tan biến trong cơn bão tiếng động.
Tại một đường dẫn nhập làn phía trước, một phụ nữ cau có vừa lao tới thì trông thấy ba làn xe đang ập xuống. Bà ta rít phanh chiếc Falcon han gỉ. Đúng lúc tôi chạy ngang mũi xe, bà đạp mạnh ga và chỉ còn cách tôi vài phân — nhắm vào một khoảng trống nhỏ phía trước chiếc taxi. Người tài xế taxi phải đánh lái rồi đạp phanh gấp, suýt gây ra một vụ đâm xe liên hoàn. Tôi có cảm giác mình như một nút bần giữa dòng nước xiết, chỉ khác một điều đáng lo ngại: nút bần thường nổi được trên mặt nước và thoát ra mà không hề hấn gì. Hàm tôi đau nhức vì căng cứng; mắt bỏng rát bởi khói xe.
Cuối cùng, tôi dốc nốt chút sức lực cuối cùng, lao xuống đường rẽ thoát ra rồi ngồi trước khách sạn, choáng váng và run lẩy bẩy. Một phút sau Walt chạy đến bên cạnh, trông ít nhất cũng tệ như cảm giác của tôi lúc ấy. Chúng tôi lôi hai chiếc xe vào trong rồi đổ vật xuống.

“Các tay đua, hãy khởi động!”
Giải đua Xe chạy bằng Sức người Quốc tế (IHPVA) quy tụ một bộ sưu tập máy móc có lẽ kỳ quái nhất từng lăn bánh trên đường đua Indy 500 lừng danh. Có vô số cách để ghép bánh xe, bàn đạp và chỗ ngồi lại với nhau; nhiều cỗ máy ở đây trông hết sức lố bịch — cho đến khi chúng tiến ra đường đua và vượt quá giới hạn tốc độ 55 dặm một giờ chỉ bằng sức cơ bắp.
Đó là một cuối tuần của tình bằng hữu công nghệ cao và những kỷ lục thế giới mới, của các vận động viên nghiêm túc và những tay mày mò đầy sáng tạo. Tại vùng rìa xa lạ này của thế giới xe đạp, lần đầu tiên tôi được nếm trải cảm giác trở thành tâm điểm của đám đông — và nó đã chiều hư tôi khủng khiếp.

“À, bộ giò đĩa chuyển hướng TA. Cậu cần chỉnh ổ trục lệch tâm một chút.”
“Cậu đã thử dùng cơ cấu liên kết bằng cáp chưa?”
“Cuối cùng cậu để độ trail ở bánh trước là bao nhiêu, khoảng một inch à?”
“Chà! Vành hợp kim 16 × 1⅜ inch, 36 lỗ ư? Cậu kiếm thứ quái quỷ ấy ở đâu vậy?”
“Tỷ lệ phân bổ trọng lượng trước–sau của xe là bao nhiêu?”
Suốt cuối tuần, những câu hỏi như thế xuất hiện nhan nhản, bởi tôi đang ở giữa thế giới của những tay thử nghiệm xe đạp hạng nặng. Chỉ vài ngày sau, thay vào đó tôi sẽ được nghe: “Xích dài thế mà vẫn phải đạp nhiều như thường à?”
“Cái xe ấy dành cho mấy người đi?”
“Động cơ nằm ở đâu?”
“Cái máy sưởi mặt trời phía trên này để mùa đông anh khỏi lạnh phải không?”
“Ờ… xin lỗi, cái này có bao nhiêu bánh vậy?”
Vân vân và vân vân. Sự khác biệt thật đáng kinh ngạc. Tôi đã quá quen trò chuyện với những phù thủy xe đạp đến nỗi hoàn toàn quên mất rằng mình đang đi đây đi đó trên một cỗ máy mà phần lớn mọi người nhìn vào đều thấy xa lạ như vật đến từ hành tinh khác.

Đó vừa là một cuối tuần đầy nhiệt huyết, vừa là một cuối tuần làm việc: tôi đã phải đối mặt với hạn nộp bài đầu tiên trên đường và cuối cùng lại ngồi một mình trong khách sạn Hilton, trong khi bạn bè đi xem các cuộc đua buổi tối tại sân đua lòng chảo. Tôi nhìn chằm chằm vào màn hình bé xíu, cố ép đầu óc suy nghĩ về nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. Nhưng nó chống cự như một con la bướng bỉnh, chỉ muốn mơ màng trên những tấm bản đồ đường bộ thay vì tập trung vào công việc trước mắt. Nhưng còn tiền bạc…
Liệu cách sống này có thật sự ổn không?
Cho đến lúc ấy, chuyến đi vẫn chưa chứng tỏ mình là phương thuốc thần kỳ chữa được những thói quen làm việc tồi tệ. Chỉ cần dòng chữ hơi khựng lại là tôi đã vươn tay định gọi điện; tôi bật TV lên chỉ để xem có gì, rồi cuối cùng ngồi xem một tập Knight Rider phi lý nào đó. Chuyện ấy đương nhiên dẫn đến giấc ngủ, và tôi cứ ngủ cho đến khi những người cùng phòng trở về, khiến tôi phải xấu hổ bằng những câu hỏi về tiến độ công việc.
Trì hoãn, rồi tuyệt vọng. Vẫn mô thức cũ ấy, chỉ chuyển sang một khung cảnh mới.
Chủ nhật, các cuộc đua kết thúc. Người thắng lẫn kẻ thua chất máy móc lên xe van và rơ-moóc; khắp nơi vang lên những cái bắt tay cùng tiếng gọi: “Hẹn gặp lại năm sau!” Đám đông thưa dần. Ai đó bắt đầu nhặt rác; người bán nước ngọt đóng quầy, cho xe ì ầm chạy xuống đường, cuốn theo một dải lá vàng phía sau. Tôi lơ đãng trả lời một cuộc phỏng vấn của tờ Indianapolis Star. Và rồi khoảnh khắc ấy đến: Walt và Frank lái xe đến chào tạm biệt.
Xe đạp của Walt đã được xếp vào xe Frank. Họ đang trên đường trở lại Columbus để bắt đầu một tuần mới. Tôi chợt nhận ra mình vẫn luôn dựa vào sự hỗ trợ của họ — và theo một nghĩa nào đó, tôi vẫn chưa thực sự ra đi.
Bỗng nhiên, tôi trở thành một người xa lạ giữa thành phố, đơn độc trên đường. Tôi lặng lẽ đứng nhìn những người bạn lái xe rời xa.