---
title: 'Chương 6 - Lăn bánh vào thế giới số'
date: '2026-08-28T09:32:46+07:00'
author: XV5HP
tags:
  - digital-nomad
  - roberts
draft: false
summary: 'Chuyến chạy thử xuyên qua những kỉ niễm cũ của cuộc đời (tháng 10 năm 1983)'
image: /uploads/2026/08/1c263ff40380832f.webp
series: digital-nomad
part: 7
---

- [Link bài viết gốc](https://nomadicresearchlabs.substack.com/p/rolling-into-dataspace)
- [Chương 5: 200 dặm đầu tiên](https://hatrunghieu.com/posts/chuong-5-200-dam-dau-tien)
- [Chương 4: Lên đường](https://hatrunghieu.com/posts/chuong-4-len-duong)
- [Chương 3: Sẵn sàng cho cú nhảy](https://hatrunghieu.com/posts/chuong-3-san-sang-cho-cu-nhay)
- [Chương 2: Những bước đi đầu tiên](https://hatrunghieu.com/posts/chuong-2-nhung-buoc-di-dau-tien)
- [Chương 1: Ý tưởng ra đời](https://hatrunghieu.com/posts/chuong-1-y-tuong-ra-doi)

> Tôi sẽ sống cả đời một cách thờ ơ và vô tư nếu không phải vì chuyện cơm áo gạo tiền, nó là một thứ khá phiền phức. 
> —Ogden Nash


![Winnebiko trên đường đua Indianapolis 500 (ảnh: Jon Goell)](/uploads/2026/08/1c263ff40380832f.webp)

Sau cú choáng ban đầu, tôi bỗng thấy mình tự do đến lạ — một thứ tự do khiến đầu óc quay cuồng. Tôi đứng lặng nhìn cuộc vui tan dần xung quanh, chợt nhận ra mình muốn làm quái gì cũng được, mà chẳng ai buồn để tâm.

Tôi đã chặt đứt những sợi xích trói mình vào bàn làm việc, rồi bán luôn cái bàn và phá bỏ cả những bức tường. Ngay lúc tôi đứng đó trong Công viên Eagle Creek, những bức tường ấy đang sụp xuống, vỡ thành đống gạch vụn nhanh đến mức tôi thấy như chóng mặt. Những bức tường quen thuộc của tôi… biến mất rồi.

Tôi cố hình dung ranh giới của khoảng không mới mà mình vừa tạo ra. Thế giới của tôi không còn bị bó buộc bởi thời gian và khoảng cách — thậm chí cả trách nhiệm cũng không. Ý nghĩ ấy vừa khoái trá vừa khiến tôi bất an. Và rồi, một mình giữa thành phố xa lạ này, tôi chợt hiểu rằng trong một thời gian dài sắp tới, có lẽ mình sẽ chẳng bao giờ ở gần “nhà” hơn lúc này.

Tôi chầm chậm đạp đi, đầu óc nghĩ đến bài viết phải có mặt ở Boston trước chín giờ sáng hôm sau. Một bài tổng quan toàn diện về nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, viết riêng cho giới quản lý kỹ thuật ư? Tôi lắc đầu, thong thả lướt qua công viên như một gã nhàn nhã đi hóng gió ngày Chủ nhật, chỉ khác là gã này đầy đồ công nghệ. Viết bài cho tạp chí chuyên ngành ư? Đêm nay ngủ đâu tôi còn chưa biết, nói gì đến chuyện tìm chỗ ngồi làm việc.

Tôi dừng lại suy tính, lôi từ túi ra một chiếc khăn giấy nhàu nhĩ để xem tấm bản đồ sơ sài ai đó đã vẽ cho mình. Không chỉ đường sá khiến tôi mù mờ. Đúng lúc tôi còn dán mắt vào mấy đường mực nhòe, một người đàn ông dáng săn chắc trên chiếc xe đạp đua lướt tới và dừng im phăng phắc bên cạnh.

“Lạc đường à?” Anh bật cười khi nhìn chiếc khăn giấy.

“Ờ, cũng hơi hơi…”

“Trưa hôm qua anh ăn ở quán Bob Evans gần sân bay, đúng không?” Anh hất tay về phía sau.

“Ờ… đúng. Sao anh biết?” Tôi cố nhớ xem mình từng gặp anh ở đâu.

Anh cười, chìa tay ra. “Tôi là Harold. Con gái tôi, Kelly, làm ở đó.” Tôi nhớ ra cô tiếp viên tóc vàng xinh xắn. Quả thật, muốn âm thầm đi đâu mà không bị nhận ra trên một chiếc xe đạp nằm sáng loáng, dài gần hai mét rưỡi thì hơi khó.

Chỉ vài giờ sau, tôi đã chiếm dụng bàn ăn nhà Harold ở ngoại ô Clermont. Và theo đúng truyền thống vẻ vang của những kẻ chuyên trì hoãn khắp thế gian, tôi cắm đầu viết lấy viết để vào phút chót.



![Đầu cắm RJ-11 gắn dây kẹp để nối vào đường điện thoại](/uploads/2026/08/778896e6fdc637ff.webp)


Quá nửa đêm. Tôi rón rén rút dây chiếc điện thoại của chủ nhà khỏi ổ cắm trên tường bếp rồi cắm đầu nối của mình vào. Khom lưng bên một hệ thống máy tính thu nhỏ giữa căn nhà tối om, trong khi cả gia đình vẫn ngủ say, hoàn toàn không hay biết dữ liệu đang được truyền đi ngay cạnh chiếc máy xay Cuisinart, tôi thấy mình như nhân vật trong một tập Nhiệm vụ bất khả thi. Bài viết bay qua đường truyền rồi đáp xuống những phiến đĩa đang quay trong ổ đĩa của CompuServe tại Columbus. Sáng hôm sau, biên tập viên của tôi ở Mini-Micro Systems sẽ đăng nhập và chuyển nó sang hệ thống dàn chữ tại Boston; Kacy cũng làm tương tự để lưu một bản vào hồ sơ của chúng tôi. Công nghệ tuyệt vời chưa?


![Viết về trí tuệ nhân tạo hồi năm 1983…](/uploads/2026/08/f06a715327f85cfb.webp)




Rồi lại lên đường! Tôi có cảm giác như mọi thứ giờ mới thật sự bắt đầu khi đạp về phía tây khỏi Clermont, sau đó rẽ xuống nam và bắt đầu màn hành xác ngược gió tới Bloomington. Gió tây nam thổi dữ đến mức ngay cả trên đường bằng, tôi cũng phải về gần số nhẹ nhất mới nhích lên được. Với thể lực tệ hại của tôi khi ấy, những con dốc nhỏ cũng đủ vắt kiệt sức, còn xe cộ thì chẳng hề biết thương người. Một ông dược sĩ hói đầu vui tính ở Plainfield bán cho tôi chiếc đai đỡ đầu gối; một gã say ở Martinsburg thì bảo tôi đúng là điên hết thuốc chữa.

Tôi cố lết đến gần Bloomington, và chẳng bao lâu sau, những dấu hiệu quen thuộc của một thành phố đại học bắt đầu hiện ra: những gương mặt trẻ trung, xinh đẹp, áp phích, hình vẽ bậy và những chồng sách ôm đầy tay. Cũng từ đó mà cuộc vui bắt đầu…

“Ôi trời ơi!” một nhóm nữ sinh ré lên bằng cái giọng miền Trung Tây cố nhại các cô nàng thung lũng California. “Nhìn chiếc xe kìa, đỉnh quá trời luôn!” Tôi ngoan ngoãn dừng lại để hai bên cùng ngắm nghía nhau. Những câu hỏi quen thuộc bỗng trở thành niềm vui, và tôi khéo léo úp mở rằng mình vẫn chưa biết sẽ ngủ ở đâu. Chẳng ai hưởng ứng, nhưng trời còn sớm chán.

Tôi giải thích về chiếc xe không biết bao nhiêu lần, lặng lẽ lướt giữa những tòa nhà tối om trong khuôn viên trường, nháy đèn chào những người đi xe đạp khác và khám phá ra sức quyến rũ muôn thuở của thành phố đại học. Cuối cùng, khi đã lạnh cóng và mệt nhoài, tôi được hai sinh viên cho tá túc. Họ pha trà cho tôi rồi thức trắng đêm theo đúng kiểu kinh điển để nhồi nhét bài vở trước kỳ thi, trong khi tôi dần chìm vào giấc ngủ.

Bloomington giữ chân tôi vài ngày. Bầu trời vẫn xám xịt, còn tôi thì mệt mỏi rã rời. Vừa lười vừa chẳng thiết làm gì, tôi lôi chiếc xe lên tầng cao nhất của một tòa nhà xập xệ rồi ngủ li bì. Lời Robby tiên đoán đã thành sự thật: chỗ nào trên người tôi cũng đau. Trong lúc cô chủ nhà có dịp hiếm hoi đi nghe Kurt Vonnegut diễn thuyết trong trường, tôi ngủ. Đến khi cuối cùng cũng gom đủ sức ngồi viết, tôi lại làm đổ sáp nến lên máy tính và thế là bỏ cuộc.

Nhưng cách đó chừng một trăm dặm về phía nam, tại Louisville, bố mẹ tôi đang thấp thỏm chờ con về thăm — và không khỏi hoài nghi trước trò khác người mới nhất của đứa con nuôi. Ban đầu, mẹ cố ngăn tôi bằng cách gửi những mẩu báo kể chuyện người ta bị thương hoặc bị cướp khi đi đường. Khi cách ấy không lay chuyển được tôi, bà chuyển sang khuyên lẽ phải. Tôi gọi điện từ Bloomington; nghe giọng tôi, họ nhận ra ngay sự mệt mỏi và cả cách tôi lảng tránh những câu hỏi về cái đầu gối đau. Đã đến lúc về thăm nhà.


![](/uploads/2026/08/05bd6442b96b91a6.webp)


Một cảm giác thân thuộc đến nhói lòng ập vào tôi khi băng qua sông Ohio sau hai ngày đạp xe tới Louisville. Đây là quê cũ của tôi, và những ký ức len qua cơn mệt mỏi bỗng khiến các vấn đề trước mắt như xe cộ hay mảnh kính vỡ trở nên bé nhỏ. Nếu trên đời này còn nơi nào có thể gợi cho tôi chút cảm giác là nhà, thì chính là nơi đây.

Tôi ngập ngừng tìm về căn nhà ở Crescent Hill, nơi mình từng sống suốt ba năm. Đó là một ngôi nhà kiểu Victoria tám mươi năm tuổi, có mười ba phòng, cửa kính màu và chiếc xích đu ngoài hiên. Tôi dừng xe đúng chỗ đỗ ngày trước, nhìn qua bãi cỏ từng thuộc về mình và thấy khắp nơi là dấu vết của một gia đình khác. Những hệ thống điều khiển công nghiệp tinh vi dùng máy vi tính từng ra đời trong phòng thí nghiệm trên tầng hai…

Cổ nghẹn lại, người thì đau nhức, tôi tiếp tục đi về phía nhà bố mẹ.

Dù biết là vô lý, tôi vẫn dáo dác tìm những gương mặt quen trong khi vật lộn với dòng xe giờ cao điểm trên những con đường mình đã thuộc suốt bao năm: Frankfort, Cannons, Taylorsville. Tôi bực bội nhìn những trạm xăng mới mọc lên, thấy Louisville cổ kính của mình dần biến thành một nơi giống hệt mọi nơi khác. Chỗ cây liễu rủ bên dòng suối mà tôi từng chơi ngày bé giờ là một khu chung cư trải rộng. Những con đường quê rợp bóng nơi tôi từng thực hiện các chuyến “thám hiểm bằng xe đạp” nay đã thành đại lộ bốn làn, hai bên đầy tiệm sửa ống xả ô tô và các chuỗi thức ăn nhanh. Những nét riêng xưa cũ còn sót lại, cùng vài người cứng đầu nhất quyết không chịu bán đất, chỉ càng khiến tôi buồn hơn.

![Ngôi nhà cũ của gia đình](/uploads/2026/08/b231939043439477.webp)

Nhưng rồi nó hiện ra, phía trong hàng rào ván trắng ở Jeffersontown: cây cối đã lớn hơn, dòng suối chảy đục ngầu, hộp thư vừa được sơn mới, còn mấy con mèo cũ — hoặc con cháu của chúng — vẫn ngồi chờ được cho ăn. Nhà kính, căn kho cũ sạm màu mưa nắng, chiếc Comet đời 1963 ngoài lối vào vẫn được chăm chút cẩn thận — mọi thứ vẫn còn nguyên.

Tôi dựng xe rồi đứng lên, chân hơi loạng choạng. Cửa sau mở ra và mẹ tôi xuất hiện — trông già hơn trong ký ức — nhìn tôi bằng ánh mắt rất đặc trưng của các bà mẹ: vừa thương, vừa lo, vừa trách. “Trời đất ơi! Chắc con đói lả rồi!”

Bố tôi bước ra, quan sát chiếc xe bằng con mắt nhà nghề của một kỹ sư đã nghỉ hưu, rồi hỏi tôi về mắt xích dự phòng và dụng cụ sửa chữa. Tôi đi ngắm vườn lan và nghe kể tình hình mới nhất của những người hàng xóm mà mình chỉ còn nhớ mang máng. Chẳng có gì thay đổi — dù đã ba mươi mốt tuổi, tôi vẫn là thằng con của bố mẹ. Còn tôi bắt đầu cố làm họ yên tâm về cuộc sống mới của mình.

![Mẹ tôi trong nhà kính trồng lan của bà](/uploads/2026/08/b9d2fc0023c10aec.webp)

Họ hỏi vì sao tôi lại làm thế, nhắc lại những dự định từng bỏ dở, rồi động đến chuyện tiền bạc nhức nhối và trách nhiệm. Tôi cố giải thích, nhưng trong mắt họ, đây chỉ là những chuyến lang thang thời thiếu niên đang lặp lại, và lần này cũng sẽ chẳng đi đến đâu. Tôi bỏ cuộc và dành phần còn lại của chuyến thăm để trò chuyện với bạn bè trên mạng. “Nó làm cái quái gì trong ấy vậy?” Tôi nghe mẹ thì thầm bên kia cửa phòng làm việc, trong lúc mình chúi người trên chiếc bàn cổ, kẹp dây vào đường điện thoại của họ. Những mối dây tình cảm khác cũng đang dần lỏng ra — Columbus chưa bao giờ thật sự đem lại cảm giác là nhà, còn giờ Louisville cũng vậy.

Không còn chốn nào thực sự níu chân, tôi lại được tự do lăn bánh trên đường. Mẹ gói đồ ăn trưa, bố kiểm tra lốp xe; tôi lắp bộ chuyển số sau mới rồi thực hiện một lượt kiểm tra trước khi khởi hành. Vừa thán phục trước tầm vóc của chuyến đi, vừa tin chắc rằng tôi sẽ chẳng bao giờ chịu lớn, bố mẹ đứng nhìn với vẻ lo lắng không giấu nổi khi tôi điều khiển chiếc Winnebiko xuống lối xe vào, tiến ra thế giới vô định mênh mông, mênh mông ngoài kia.

---

Những con đường rời Louisville khiến tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên — giống như các con đường đã đưa tôi ra khỏi Columbus, chúng vẫn phảng phất nét thân quen. Có cái cũ làm mốc, tôi càng cảm nhận rõ cái mới, và những dặm đường đẹp như tranh trên quốc lộ US 42 làm tôi thích thú.

Nhưng sau một lần ghé thăm chớp nhoáng, chỉ vừa đủ trao nhau một cái ôm và khơi lại những kỷ niệm đẹp, một nỗi lo bắt đầu hiện rõ trong đầu tôi.

Liệu chuyến phiêu lưu lãng mạn mà tôi vẫn thường hình dung có biến thành một chuỗi những cuộc gặp gỡ thoáng qua không? Trong lúc đạp xe trên con đường uốn lượn, tôi tưởng tượng ra chúng: những khoảnh khắc lóe lên dọc đường chỉ đỏ ngoằn ngoèo mà tôi đang chầm chậm vạch trên tấm bản đồ. Một đời du mục làm sao có đủ hơi ấm để tôi khỏi phát điên, nếu tất cả những gì nuôi sống mình chỉ là những “khởi đầu”?

Tôi sẽ mãi chỉ là người ghé ngang… hết lần này đến lần khác.

Nghĩ vậy, tôi thở dài và tiếp tục đạp về hướng đông bắc, nhớ lại những lần mình chập chững vun vén một mái ấm, rồi tự hỏi liệu “thoát khỏi bài toán phải chọn giữa tự do và an toàn” có phải là rốt cuộc chẳng có được thứ nào, thay vì có cả hai.

![](/uploads/2026/08/69e69caf23a67e75.webp)

Ở lưng chừng quãng đường giữa Louisville và Cincinnati, tôi ngồi trong chiếc lều đang mở, để máy Sony rót thứ nhạc jazz mượt mà vào đầu, còn ngọn nến chập chờn như nhảy theo nhạc, đồng bộ cả giác quan lẫn não bộ. Một mục đích của chuyến chạy thử này là giúp tôi chuyển từ cuộc sống đứng yên sang đời du mục, nhưng chuyện ấy hóa ra không đơn giản như tôi tưởng. Tôi kéo khóa đóng chiếc lều Domicile, chăm chú nhìn từng đường may rồi nhận ra mình vẫn chưa thật sự làm quen với mái ấm mới.

---

Trong một ngày ngập nắng thu, không khí đượm mùi của vùng trồng thuốc lá, tôi đạp theo bờ sông Ohio phía Indiana để tới Cincinnati, dừng ăn trưa ở Patriot.

Thôi chết. Tiếng hò hét và cười hô hố nổi lên ngay khi tôi vừa vào bãi đỗ xe. Tôi bất an liếc sang bên kia đường về phía tiếng ồn và thấy hai thiếu niên nhảy vào một chiếc ô tô — loại xe độ chổng đuôi từng là biểu tượng của đám “trẻ trâu” cuối thập niên 1950. Chiếc xe rít bánh lao qua đường giữa một làn khói, bộ mâm Cragar lóe lên rồi dừng lại. Cả hai nhảy xuống, hất cằm đầy vẻ gây gổ, cánh tay cuồn cuộn cơ bắp như đã sẵn sàng động thủ.

“Mấy tấm pin mặt trời quái quỷ này để làm gì?” một gã hỏi, khinh khỉnh phẩy tay về phía những tấm pin Solarex sáng bóng của tôi.

“À,” tôi trả lời, nở một nụ cười thản nhiên có phần diễn xuất, “nó cấp điện cho máy tính. Cả đèn, dàn âm thanh, bộ đàm và hệ thống chống trộm nữa.” Tôi khéo léo nhấn mạnh mấy chữ hệ thống chống trộm.

“Thế à?”

“Ừ! Tôi đang đi xuyên nước Mỹ trên cỗ máy này, vừa viết sách vừa làm chương trình truyền hình. Chưa thấy tôi trên bản tin sao?”

“Chà, cái thứ này lên cả truyền hình cơ à? Động cơ đâu?”

Tôi vỗ vào hai đùi. “Động cơ đây chứ đâu! Mà giờ hết nhiên liệu rồi — ở thị trấn này có chỗ nào bán bữa trưa ra hồn không?”

Cả hai cùng phá lên cười. “Quanh đây thì không. Trừ khi ông thích bánh mì kẹp hâm bằng lò vi sóng.” Không khí căng thẳng tan biến hoàn toàn, và họ bắt đầu nhìn chiếc xe của tôi với vẻ thán phục. Tôi giải thích cách nó hoạt động, thậm chí còn cho một gã ngồi thử.

Chuyện này cho tôi một bài học. Chẳng ai nói thẳng ra, nhưng vừa rồi tôi đã bị thăm dò, bị thách thức và buộc phải chứng tỏ mình. Chuyện đó sẽ còn lặp lại. Nhưng bằng cách nhìn thẳng vào mắt họ, tôi đã xuyên qua lớp vỏ hùng hổ để chạm tới con người thật bên trong; tôi chia sẻ một phần con người mình và khiến họ dần làm điều tương tự.

Đáng sợ là những kẻ không chịu nhìn vào mắt tôi. Nếu không thể nhìn thẳng vào mắt ai đó và nhanh chóng khiến họ thôi coi tôi là một kẻ lạ mặt dễ bắt nạt, mà nhìn tôi như một con người bình thường giống họ, tôi sẽ gặp rắc rối.

---

Trong chuyến đi này, tôi sẽ không đeo kính râm.

Sau một cuối tuần nhói lòng vì nhớ đến cuộc đời lẽ ra mình đã có, tôi vật lộn rời Cincinnati giữa mưa như trút — lại còn bị một cảnh sát đuổi khỏi xa lộ Reed Hartman, nơi xe đạp không được phép đi vào. Khi tới gần vùng ngoại ô Sharonville giữa dòng xe cộ hỗn loạn vì công trường, tôi gặp tai nạn đầu tiên.

Một chiếc Buick từng có màu trắng hiện lên trong gương gắn trên mũ bảo hiểm, to nặng và đáng sợ. Không còn đường thoát… Tôi nhìn không tin nổi, mọi thứ như đang diễn ra thật chậm, rồi hét lên một tiếng “Này!” vô ích. Bà lão lưng còng lái con cá voi ấy lấn vào phần đường của tôi, ép tôi sát mép vỉa hè trơn trượt. Vừa buông một câu chửi, tôi vừa trượt úp mặt vào vũng bùn nhão nhoét, làm bẩn bộ đồ mưa mới, bẻ cong thanh nối tay lái và đập tan mọi ảo tưởng rằng chiếc xe đạp điện tử kỳ diệu này có thể giúp tôi trở nên bất khả chiến bại.

Bà ta thậm chí còn chẳng nhận ra.

![](/uploads/2026/08/a7e8a8fca35e6e1b.webp)

Không bị thương nhưng tức điên, tôi tiếp tục lao vào mưa. Tôi chẳng nhớ gì về vùng đất hay con người nơi ấy — chỉ nhớ sự cô độc và đôi bàn chân ướt sũng, tê dại. Tôi mang máng nhớ mình đã tới nhà trọ thanh niên Caesar Creek, kéo cỗ máy đầy bùn lên hiên rồi chắp vá một bữa tối lộn xộn từ bất cứ thứ gì, thứ gì cũng được.

Rốt cuộc, tất cả chuyện này là vì cái gì? Co ro dưới những tấm chăn quân đội mốc mùi trong phòng ngủ tập thể nam, tôi run lên giữa cái ảm đạm báo hiệu mùa đông Ohio, cố nhớ lại niềm đam mê từng thôi thúc mình lao vào sáu tháng chuẩn bị điên cuồng, cùng những lời biện giải đầy hào hứng mà tôi đã dùng để trả lời tất cả những ai hỏi mình đang làm trò gì.

Chuyến chạy thử này là một ngã rẽ của đời tôi. Các lựa chọn vẫn chưa ngã ngũ, nhưng những quyết định đưa ra lúc này sẽ định hình nửa thế kỷ tiếp theo của cuộc đời. Tôi nên để quán tính đưa mình tiến lên theo con đường ít cản trở nhất, hay để cơn mệt mỏi của một tay du mục mới vào nghề ép mình tỉnh táo nhìn vào thực tế? Dù chọn cách nào thì những cây cầu sau lưng cũng đã bắt đầu cháy…

---

Đến cuối buổi chiều hôm sau, tôi đang bon bon về phía Columbus nhờ luồng gió xuôi mát lạnh — tiếng rè trên các đài FM quen thuộc dần tan biến, còn những cảnh vật bên đường lại mang dáng dấp ngoại ô. Trở về Dublin đem đến một cảm giác kỳ lạ, nửa như chỉ ghé ngang, nửa như về nhà. Hân hoan, đắc thắng và háo hức được gặp lại Elisse, tôi tìm tới trạm điện thoại công cộng gần nhất.

“Elisse à? Chào em!!!”

“Chào anh, Steve.”

“Anh vừa trở về sau chuyến chạy thử — 762,4 dặm! Anh đang ở Dublin Plaza…”

“Ừ.”

“Em muốn gặp nhau không?”

“Không, em nghĩ là không.”

Một luồng lạnh chạy xuyên qua người tôi, hệt như thấy ánh đèn xanh của xe cảnh sát trong gương chiếu hậu, nhận phong bì của sở thuế hay nghe điện thoại reo lúc ba giờ sáng. “Sao cơ? Em yêu, anh nhớ em.”

“Em không muốn trải qua tất cả chuyện đó thêm lần nữa, Steve.”

Giờ thì ở đây tôi cũng cảm thấy mình là kẻ ngoài cuộc. Bỗng chốc không nhà cửa, mất phương hướng, tôi nài nỉ cô. “Elisse… tuần này sẽ khủng khiếp lắm. Chắc giờ nhà anh đã bị dọn trống một nửa, điện thoại cũng không còn, mà việc phải làm thì chất thành núi. Anh cần hơi ấm. Anh cần em.”

“Anh từng có em rồi.”

“Anh cần em lúc này.”

“Anh sẽ không bao giờ trở lại Columbus nữa, đúng không?”

“Thỉnh thoảng anh sẽ quay lại thăm. Anh không biết.”

Cô im lặng.

“Elisse…”

“Sao em cứ để anh đối xử với em thế này? Được rồi. Chỉ cần đừng hứa những điều anh không giữ được, nhé?”

“Cảm ơn em… thật lòng đấy. Khoảng một tiếng nữa anh sẽ tới — anh muốn ghé qua nhà trước. Anh mua pizza nhé?”

Cô lẩm bẩm điều gì đó nhỏ đến mức tôi không nghe rõ rồi cúp máy. Nhưng trong tôi vẫn có một nỗi khao khát mãnh liệt, và điều tôi cần là hơi ấm của một mái nhà hơn là ngọn lửa ái tình.

Tôi trèo lại lên xe, nặng nề đạp dọc đường Dublin. Nhìn từ bên ngoài, ngôi nhà vẫn y như cũ: cỏ cao bị mưa ép rạp, những túi quảng cáo treo trên tay nắm cửa đã mốc meo. Một tờ Dublin Villager nhũn nước đăng bài viết sướt mướt về chuyến đi của tôi; tôi đứng ngoài hiên đọc mà ngượng đến nhăn mặt. “Chỉ những hạt cát thời gian mới ghi lại hành trình của Steve Roberts và cho biết đó là thành công hay thất bại.” Chà. Tôi vẫy tay với một người hàng xóm đi ngang rồi tự mở cửa bước vào.


![“Roberts sẽ làm được nhiều điều hơn là chỉ quay bánh xe tại chỗ.”](/uploads/2026/08/f58e77683b062271.webp)

Dù đã sống trong ngôi nhà ấy suốt bốn năm và mới rời đi hai tuần, tôi vẫn thấy nó ngột ngạt, bừa bộn, xa lạ — và không còn là nhà nữa. Chỗ chiếc bàn làm việc ngày trước giờ là một đống đồ lộn xộn. Sách vở ngổn ngang, ruồi bay vo ve, còn trong bếp dường như có thứ gì đó đã chết, sống lại, hoặc cả hai. Tôi hờ hững đi quanh xem xét. Nó thuộc về tôi mà cũng chẳng còn là của tôi; những tài sản từng được nâng niu giờ chỉ là đồ đạc. Nó giống một nhà kho, nhà của người khác, hay bất cứ nơi nào khác — chỉ không còn giống nhà tôi. Và tôi chẳng có lý do gì để ở lại thêm dù chỉ một phút.

Mang theo nỗi buồn mà chính mình cũng không sao gọi thành lời, tôi đóng cửa rồi đi tìm Elisse.


